I. TIẾP TỤC CHÚ TRỌNG, TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
[Nhandan.vn] Chiều 25/3, tại Hà Nội, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành phiên bế mạc. Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị.
Sau ba ngày làm việc khẩn trương, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Trung ương thống nhất cao đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của Đảng và đất nước, nhất là nhóm nội dung về công tác tổ chức, cán bộ và các quy định nền tảng của Đảng.
Phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá cao tinh thần làm việc quyết liệt của các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các cơ quan giúp việc và đại biểu dự Hội nghị.
Tổng Bí thư khẳng định tin tưởng với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các mục tiêu phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhanh hơn, bền vững hơn và toàn diện hơn. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược; kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm; chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Khái quát những nội dung công việc, Tổng Bí thư nêu rõ, công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc, nhất quán “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng được cụ thể hóa trong Quy định về Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được ban hành trong Hội nghị này.
Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, Tổng Bí thư nhấn mạnh đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, phải kiên trì thực hiện.
Các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp quán triệt sâu sắc 4 nguyên tắc: Tăng trưởng thực chất; không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần; kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích. Kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn. Tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công-tư. Tăng trưởng kinh tế cao phải bảo đảm phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội.
Tổng Bí thư chỉ rõ, để tạo “động lực của động lực” cho phát triển, Trung ương cần sớm xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3 Khóa XIV xem xét, quyết định.
Đối với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Tổng Bí thư quán triệt, đây không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là “phương thức quản trị địa phương mới”. Phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị. Nếu chỉ dừng lại ở việc giảm tầng nấc trung gian, sáp nhập đầu mối, tinh giản hình thức, mà không đồng thời đổi mới cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền, thiết kế lại quy trình xử lý công việc, chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, làm rõ trách nhiệm người đứng đầu và chuyển mạnh từ hành chính quản lý sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển thì hiệu quả cải cách sẽ rất hạn chế.
Bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi. Cấp tỉnh không sa vào xử lý sự vụ, làm thay cấp dưới, mà phải tập trung vào những vấn đề mang tính quy hoạch, chiến lược, đầu tư lớn, điều phối nguồn lực, quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát. Sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp là thước đo và là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Tổng Bí thư yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, triển khai hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng. Vì vậy phải thiết kế, cải tiến thể chế đủ chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, lãng phí; xây dựng cơ chế giám sát đủ mạnh để “không dám” và “không muốn” tham nhũng; xử lý nghiêm minh mọi vi phạm; đồng thời vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, Tổng Bí thư đề nghị nhận thức đầy đủ đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Nhiệm vụ không chỉ là giữ vững chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo, vùng trời, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thể chế, bảo vệ lòng tin xã hội, bảo vệ không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ các mạch máu kinh tế và các lợi ích phát triển chiến lược của đất nước.
Đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn. Gắn kết ngày càng chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế-xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới để quốc phòng, an ninh, đối ngoại thực sự trở thành một “cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia”, động lực trực tiếp của phát triển và là chỗ dựa chiến lược để đất nước vững vàng đi lên trong kỷ nguyên mới./
II. KẾT LUẬN CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI PHIÊN HỌP CHUYÊN ĐỀ VỀ CÔNG NGHỆ CHIẾN LƯỢC CỦA BAN CHỈ ĐẠO TRUNG ƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ
Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vừa ban hành Thông báo số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại Phiên họp chuyên đề về công nghệ chiến lược của Thường trực Ban Chỉ đạo. Thường trực Ban Chỉ đạo yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt 6 định hướng lớn và 6 việc cần làm ngay sau đây:
- Về 6 định hướng lớn
Thứ nhất, mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược phải xuất phát từ nhu cầu phát triển của nền kinh tế và lợi ích lâu dài của quốc gia, đó là nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh, hình thành các ngành công nghiệp mới và bảo đảm tự chủ về công nghệ trong những lĩnh vực then chốt. Theo đó, việc xác định công nghệ chiến lược cần dựa trên 3 yếu tố cơ bản: (i) Nhu cầu phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. (ii) Lợi thế, tiềm năng của các ngành công nghiệp trong nước. (iii) Khả năng hình thành chuỗi giá trị và thị trường cho sản phẩm công nghệ.
Thứ hai, xác định Danh mục công nghệ chiến lược theo 2 nhóm:
(1) Nhóm các công nghệ đã có thị trường, có thể tạo ra tác động lớn và trực tiếp đến phát triển kinh tế như: nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp chế biến, dệt may, da giày, xây dựng, thép, năng lượng...: Định hướng yêu cầu doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt đầu tư; Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo thị trường thông qua chính sách mua sắm công và ban hành các gói hỗ trợ phù hợp; các cơ sở nghiên cứu, giáo dục đại học tham gia nghiên cứu, phát triển và đào tạo nhân lực.
(2) Nhóm các công nghệ tạo động lực tăng trưởng mới, công nghệ nền tảng cho tương lai, công nghệ bảo đảm tự chủ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng (như: Công nghệ lượng tử, công nghệ tên lửa, lò phản ứng hạt nhân nhỏ, công nghệ phục vụ phát triển kinh tế độ cao/không gian tầm thấp, vệ tinh nhỏ, UAV...): Nhà nước chủ động đầu tư, đặt hàng (mua sản phẩm hoặc nghiên cứu) và dẫn dắt; doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo tham gia phối hợp triển khai.
Thứ ba, Các cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp tư nhân, đưa các doanh nghiệp thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái công nghệ. Trong đó, Nhà nước tập trung thực hiện 4 vai trò: (1) Định hướng chiến lược. (2) Tạo môi trường thể chế thuận lợi. (3) Đặt hàng và hỗ trợ nghiên cứu phát triển công nghệ. (4) Hỗ trợ thương mại hoá, mở rộng thị trường, đóng vai là "người mua đầu tiên" đối với các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Thứ tư, tập trung nguồn lực cho một số lĩnh vực thật sự trọng điểm, kiên quyết khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí. Phải lựa chọn đúng các công nghệ có ý nghĩa chiến lược để đầu tư theo nguyên tắc: Chọn lọc tinh gọn, nhưng triển khai quyết liệt, chuyên sâu, đầu tư bài bản, đủ lớn để ra sản phẩm cuối cùng.
Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ mô hình tổ chức thực hiện và xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu. Đối với từng công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược, phải xác định rõ trách nhiệm bộ, cơ quan chủ trì, phối hợp và nguồn lực tương ứng; đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện trước Đảng, Nhà nước. Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan đầu mối tham mưu, thẩm định, hướng dẫn, điều phối, theo dõi, tổng hợp chung, nhưng không làm thay chức năng, nhiệm vụ của các bộ ngành. Thiết lập đầu mối điều phối liên ngành ở cấp Trung ương đủ thẩm quyền để tháo gỡ các vướng mắc kịp thời, bảo đảm khâu thực thi thông suốt.
Thứ sáu, đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo đó, công tác đào tạo và thu hút nhân lực phải đi trước một bước để sớm hình thành đội ngũ chuyên gia, kỹ sư, nhà khoa học và nhà quản trị giỏi, có thể làm chủ các công nghệ chiến lược. Đồng thời, thúc đẩy mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; tập trung hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khởi nguồn từ viện, trường. Yêu cầu khẩn trương hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo đủ mạnh, đủ mở, đủ linh hoạt để kết nối hiệu quả giữa nghiên cứu với thị trường.
- Về 6 việc cần làm ngay
1. Rà soát và hoàn thiện Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược theo hướng tinh gọn, tập trung vào những lĩnh vực có ý nghĩa quyết định đối với phát triển đất nước cả trước mắt và lâu dài. Giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ: Quốc phòng, Công an, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Y tế, Xây dựng, Giáo dục và Đào tạo, Tài chính và các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong tháng 4/2026.
2. Thiết lập cơ chế chỉ đạo và điều phối thống nhất ở cấp Chính phủ để tổ chức triển khai các chương trình phát triển công nghệ chiến lược. Giao Bộ Khoa học và Công nghệ khẩn trương tham mưu thành lập Tổ Công tác điều phối liên ngành để thực hiện nhiệm vụ này, hoàn thành trong tháng 4/2026. Yêu cầu Tổ Công tác định kỳ hàng tháng báo cáo Ban Chỉ đạo và đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo về tiến độ, kết quả triển khai.
3. Khẩn trương ban hành bộ tiêu chuẩn về công nghệ chiến lược, công nghệ lõi và sản phẩm công nghệ chiến lược(1). Giao Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm chủ trì thực hiện, hoàn thành trong tháng 6/2026.
4. Rà soát, hoàn thiện cơ chế tài chính, kinh phí cho phát triển công nghệ chiến lược, trọng tâm là các cơ chế đặc thù gắn với kết quả đầu ra và chấp nhận rủi ro có kiểm soát, cơ chế ưu đãi về thuế, tín dụng, hỗ trợ lãi suất, đồng tài trợ công - tư, cơ chế sử dụng ngân sách nhà nước đặt hàng mua sắm… Giao Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính theo chức năng, nhiệm vụ, chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Công Thương và các bộ, ngành liên quan thực hiện, hoàn thành trong tháng 5/2026.
5. Rà soát, điều chỉnh và xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển công nghệ chiến lược; khuyến khích hình thành nhóm các chuyên gia đầu ngành, nhóm nghiên cứu mạnh và tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, chương trình công nghệ trọng điểm và hợp tác quốc tế. Giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì thực hiện, hoàn thành trong tháng 6/2026.
6. Tập trung tháo gỡ ngay những khó khăn, vướng mắc của các bộ, ngành, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học do Cơ quan Thường trực chuyển đến. Yêu cầu các bộ, cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ kịp thời tháo gỡ theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết bảo đảm phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và quy định pháp luật Hoàn thành chậm nhất trong tháng 6/2026.
III. KẾT LUẬN SỐ 14-KL/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ ĐÃ CHỈ ĐẠO KỊP THỜI, QUYẾT LIỆT, HUY ĐỘNG TỔNG LỰC CHÍNH SÁCH NHẰM GIỮ ỔN ĐỊNH NGUỒN CUNG XĂNG DẦU, BẢO ĐẢM AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA
Ngày 20/3/2026, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 14-KL/TW (Kết luận 14) về bảo đảm nguồn cung, giá nhiên liệu ổn định trong tình hình mới.
Trong bối cảnh xung đột Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, kéo theo những biến động khó lường của thị trường năng lượng thế giới, việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngay sau khi xem xét báo cáo của Đảng ủy Chính phủ đã cho thấy sự chủ động từ nhận diện sớm rủi ro tới chỉ đạo phản ứng chính sách kịp thời của Trung ương.
Thứ nhất, Bộ Chính trị giao Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bám sát, dự báo tình hình, diễn biến cung cầu và giá cả xăng dầu thế giới để chủ động, xây dựng kịch bản ứng phó hiệu quả; xem xét sử dụng ngay các công cụ chính sách tài khóa (các loại thuế, phí, chi, ứng chi ngân sách), tiền tệ (hỗ trợ lãi suất, vay vốn, nhu cầu ngoại tệ), chính sách quản lý giá, chính sách thương mại,... kết hợp tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra, siết chặt quản lý chống buôn lậu, quản lý chặt chẽ các đầu mối, thương nhân; xử lý nghiêm tình trạng găm hàng trục lợi, gian lận thương mại.
Khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng để bảo đảm ổn định nguồn cung, giảm thiểu biến động tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong nước làm ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đời sống nhân dân, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh trật tự xã hội, kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề cần chỉ đạo; sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng, dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn.
Thứ hai, Bộ Chính trị giao Đảng ủy các Bộ: Ngoại giao, Công Thương, Tài chính lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan chủ động, tích cực trao đổi với các đối tác nước ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước được mua nguyên, nhiên liệu, bảo đảm nguồn cung cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thứ ba, Bộ Chính trị giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo các cơ quan báo chí, truyền thông đưa thông tin phù hợp bảo đảm ổn định tâm lý thị trường.
Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy đảng ở Trung ương và địa phương lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, ngành, đơn vị trực thuộc quán triệt, thực hiện đầy đủ chủ trương của Trung ương, Bộ Chính trị về phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, chung sức, đồng lòng vượt qua khó khăn, kiên định, kiên trì mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số năm 2026 và các năm tiếp theo, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng các cấp.
IV. NÂNG TẦM HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - LIÊN BANG NGA
Ngày 25/3, trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Liên bang Nga, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã hội kiến Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin tại Điện Kremlin, thủ đô Moskva.
Chào đón Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, Tổng thống Vladimir Putin khẳng định, Việt Nam luôn là người bạn chân thành, đối tác quan trọng của Nga tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương; coi trọng việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam. Gửi lời thăm hỏi và chúc sức khỏe tới Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường và các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, Tổng thống Vladimir Putin khẳng định luôn vui mừng chào đón Tổng Bí thư Tô Lâm sang thăm Liên bang Nga. Tổng thống Vladimir Putin trân trọng gửi lời chúc mừng nồng nhiệt trước sự thành công của Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tổng thống Vladimir Putin tin tưởng, với những định hướng chiến lược quan trọng đã được Đại hội XIV đề ra, Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đạt được các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và 2045, nâng cao vị thế và vai trò trên trường quốc tế.
Tổng thống Vladimir Putin khẳng định, chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, lãnh đạo chủ chốt đầu tiên của Việt Nam thăm Nga sau Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tiếp tục duy trì và thúc đẩy hợp tác song phương. Tổng thống Putin bày tỏ sự đánh giá cao, trân trọng những đóng góp to lớn và tình cảm của Thủ tướng Phạm Minh Chính dành cho quan hệ hai nước, khẳng định đồng chí Phạm Minh Chính luôn là người bạn thân thiết của đất nước và nhân dân Nga, là người đồng chí tin cậy của mình. Tổng thống Vladimir Putin nhấn mạnh, Nga sẵn sàng thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực; Nga mong muốn mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới, phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam và Nga có thế mạnh như năng lượng mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, y tế, đào tạo nhân lực chất lượng cao.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trân trọng cảm ơn sự đón tiếp trọng thị, nồng hậu của Tổng thống Vladimir Putin, các lãnh đạo và nhân dân Nga đã dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, đồng thời, chuyển lời thăm hỏi thân tình của Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường và các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam tới Tổng thống Vladimir Putin. Cảm ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga ngày nay dành cho Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng phát triển Tổ quốc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định, Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống, Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga, mong muốn cùng Nga ngày càng làm sâu sắc hơn quan hệ song phương, phát huy truyền thống tốt đẹp sẵn có, khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của mỗi nước, thúc đẩy hợp tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, phục vụ mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, Tổng thống Vladimir Putin là người bạn lớn, có nhiều đóng góp to lớn cho quan hệ hữu nghị truyền thống Việt Nam-Liên bang Nga, thúc đẩy quan hệ giữa hai nước ngày càng gắn bó và phát triển. Thủ tướng Chính phủ bày tỏ hài lòng về đà phát triển tích cực của quan hệ song phương, đặc biệt là kết quả chuyến thăm chính thức Nga của Tổng Bí thư Tô Lâm (tháng 5/2025) và cuộc điện đàm giữa Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng thống Vladimir Putin ngay sau kết thúc Đại hội XIV của Đảng, góp phần định hướng chiến lược và tạo xung lực mới cho hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Tổng thống Vladimir Putin đã trao đổi sâu rộng về nhu cầu, tiềm năng của mỗi nước, xác định những lĩnh vực trọng tâm, định hướng lớn trong hợp tác song phương thời gian tới nhằm làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Liên bang Nga, coi đây là ưu tiên chiến lược lâu dài của cả hai nước.
Hai bên nhất trí cao về việc cần tiếp tục củng cố tin cậy chính trị thông qua trao đổi đoàn cấp cao và các cấp, trên tất cả các kênh Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, địa phương, doanh nghiệp và giao lưu nhân dân; duy trì hiệu quả các cơ chế hợp tác hiện có, trong đó có Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật, đồng thời nghiên cứu, thiết lập các cơ chế hợp tác mới.
Hai bên cam kết đẩy mạnh hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hai nước sang kinh doanh và đầu tư; thúc đẩy kết nối doanh nghiệp, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng; tập trung tháo gỡ các rào cản về thể chế, thanh toán, vận tải; hướng tới nâng cao kim ngạch thương mại song phương theo hướng cân bằng, bền vững.
Hai bên xác định hợp tác năng lượng-dầu khí, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển cơ sở hạ tầng là những lĩnh vực trọng tâm phù hợp với nhu cầu phát triển của mỗi nước. Đánh giá cao nỗ lực của cả hai nước, trong đó có hai Chính phủ, trong việc nỗ lực kết thúc đàm phán, ký kết Hiệp định xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 tại Việt Nam trên cơ sở bảo đảm an toàn, hiệu quả và tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế, Tổng thống Vladimir Putin khẳng định đây là hướng hợp tác quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững và sẽ chỉ đạo Chính phủ Nga khẩn trương triển khai các bước tiếp theo, sớm khởi động dự án, để dự án trở thành biểu tượng mới cho tình hữu nghị Việt Nam-Liên bang Nga trong kỷ nguyên mới. Hai bên ủng hộ các doanh nghiệp năng lượng, dầu khí của hai nước tăng cường hợp tác, mở rộng đầu tư và hoạt động trên lãnh thổ của nhau, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Hai bên cho rằng cần tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực kỹ thuật quân sự, an ninh, khoa học-công nghệ. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao nền khoa học cơ bản cũng như các công nghệ vượt trội của Liên bang Nga, một trong những quốc gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này và đề nghị, trên cơ sở kinh nghiệm hợp tác trong Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga, hai bên chú trọng, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như khoa học cơ bản, công nghệ mới, công nghệ cao, y sinh và hàng không vũ trụ.
Hai bên nhất trí cần đẩy mạnh giao lưu nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi về đi lại cho công dân của hai nước, qua đó thúc đẩy du lịch, thu hút thêm khách du lịch Nga tới Việt Nam và khách du lịch Việt Nam tới Nga. Tổng thống Putin giao Bộ Ngoại giao Nga xem xét miễn thị thực cho công dân Việt Nam. Hai bên thống nhất tăng cường học bổng cho sinh viên Việt Nam để tăng số lượng du học sinh Việt Nam tại Nga.
Hai nhà lãnh đạo đã dành thời gian chia sẻ quan điểm về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm; nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, ASEAN; đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Nhân dịp này, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, Thủ tướng Phạm Minh Chính trân trọng mời Tổng thống Vladimir Putin thăm Việt Nam vào thời gian phù hợp. Tổng thống Vladimir Putin vui vẻ nhận lời.
V. CÔNG BỐ QUY HOẠCH VĨNH LONG: HƯỚNG TỚI TRUNG TÂM KINH TẾ XANH, ĐỘNG LỰC MỚI VÙNG ĐBSCL
Quy hoạch điều chỉnh tỉnh Vĩnh Long đến năm 2050 đặt mục tiêu xây dựng địa phương trở thành trung tâm phát triển năng động, hiện đại, gắn với kinh tế xanh, kinh tế số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, từng bước khẳng định vai trò động lực trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Không để chậm trễ, mất cơ hội phát triển
Sáng 20/3, tỉnh Vĩnh Long tổ chức Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Vĩnh Long thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Trần Trí Quang nhấn mạnh: Trong bối cảnh mới, khi tỉnh thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh không gian phát triển và thích ứng với các quy hoạch cấp trên, việc điều chỉnh Quy hoạch tỉnh là yêu cầu tất yếu. "Đây là lúc chúng ta lựa chọn lại con đường phát triển phải nhanh hơn, nhưng phải bền vững hơn; kinh tế phải tăng trưởng, nhưng không đánh đổi môi trường; hội nhập phải sâu rộng, nhưng vẫn giữ được bản sắc của Vĩnh Long. Và trên hết, mọi chủ trương, chính sách đều phải hướng tới người dân và doanh nghiệp", Chủ tịch Trần Trí Quang nêu rõ.
Từ tư duy đó, tỉnh Vĩnh Long xác định 3 trụ cột phát triển: Nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng; công nghiệp chế biến, công nghiệp sạch gắn với năng lượng tái tạo; dịch vụ, logistics, phát triển đô thị và kinh tế ven sông. Đồng thời, Vĩnh Long cũng tập trung vào 3 khâu đột phá: Hạ tầng phải đi trước một bước, tạo nền tảng phát triển. Thể chế phải thông thoáng, minh bạch, thuận lợi cho đầu tư. Nhân lực phải đáp ứng yêu cầu mới, phục vụ phát triển lâu dài.
Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long đề nghị, ngay sau Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch này, các sở, ngành, địa phương triển khai ngay việc phổ biến, quán triệt Quy hoạch; rà soát lại toàn bộ các chương trình, kế hoạch, bảo đảm đồng bộ, thống nhất; công khai minh bạch thông tin, để người dân và doanh nghiệp cùng tham gia giám sát và thực hiện. "Việc gì đã rõ thì phải làm ngay. Việc gì chưa rõ thì phải tiếp tục hoàn thiện, nhưng không để chậm trễ, không để mất cơ hội phát triển", ông Trần Trí Quang yêu cầu.
Quán triệt 5 nội dung quan trọng thực hiện quy hoạch tỉnh
Phát biểu kết luận Hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long Trần Văn Lâu nhấn mạnh: Việc công bố điều chỉnh Quy hoạch tỉnh là cơ sở pháp lý để tổ chức quản lý phát triển, huy động, phân bổ nguồn lực và là cơ hội để quảng bá thông tin, hình ảnh về Vĩnh Long, kêu gọi thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư tiềm năng đầu tư vào tỉnh; đồng thời, là căn cứ để các cấp, các ngành, địa phương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động để tổ chức triển khai thực hiện trong thời gian tới.
Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Long Trần Văn Lâu nêu 5 nội dung quan trọng mà các cấp, các ngành tập trung quán triệt, tổ chức thực hiện hiệu quả quy hoạch trong thời gian tới.
Thứ nhất, cần có sự thống nhất về nhận thức trong quá trình triển khai các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Các quyết định liên quan đến đầu tư công, thu hút đầu tư tư nhân, hoạt động quản lý đất đai, xây dựng, tài nguyên và môi trường phải bám sát và tuân thủ đầy đủ nội dung Quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt.
Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa Quy hoạch tỉnh thông qua việc rà soát, xây dựng các đề án, kế hoạch, quy hoạch có liên quan. Các sở, ngành, đơn vị và UBND các xã, phường chủ động rà soát, cập nhật, điều chỉnh hoặc lập mới các quy hoạch chi tiết ngành, quy hoạch đô thị và nông thôn, các quy hoạch có liên quan bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và phù hợp với định hướng của Quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt.
Thứ ba, tập trung huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Quy hoạch đã xác định rõ các động lực tăng trưởng, hành lang kinh tế, khu vực động lực và những lĩnh vực ưu tiên đầu tư phát triển trong thời gian tới. Đối với đầu tư ngoài ngân sách, các sở, ngành và địa phương chủ động phối hợp, Sở Tài chính tổng hợp tham mưu xây dựng danh mục dự án trọng điểm có tác động lan tỏa, ưu tiên thu hút đầu tư vào những lĩnh vực có lợi thế, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, phù hợp với định hướng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao chất lượng xúc tiến đầu tư; đồng thời tăng cường đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp trong suốt quá trình triển khai dự án.
Đối với đầu tư công, cần lựa chọn dự án có trọng tâm, trọng điểm, thực sự đóng vai trò dẫn dắt và thu hút nguồn lực xã hội.
Thứ tư, việc thực hiện Quy hoạch phải gắn với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc dân tộc, đặc trưng của từng địa phương; đồng thời bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn. Trong quá trình triển khai Quy hoạch, các địa phương cần chủ động lồng ghép các mục tiêu về giảm nghèo bền vững, phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhằm tạo nền tảng lâu dài cho phát triển kinh tế-xã hội.
Thứ năm, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong công tác quản lý và tổ chức thực hiện Quy hoạch. Các sở, ban, ngành và địa phương đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong quản lý quy hoạch; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm về quy hoạch, đất đai, xây dựng theo quy định của pháp luật. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống thông tin địa lý (GIS), chuyển đổi số trong quản lý, cập nhật và cung cấp thông tin quy hoạch; bảo đảm công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tra cứu, tiếp cận thông tin.
Định hình tầm nhìn phát triển toàn diện, bền vững
Theo Quyết định số 368/QĐ-UBND, ngày 15/01/2026, tỉnh Vĩnh Long điều chỉnh quy hoạch thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với định hướng phát triển toàn diện, đồng bộ và bền vững trên cả ba trụ cột: Kinh tế - xã hội - môi trường.
Quy hoạch xác định rõ mục tiêu đến năm 2050, Vĩnh Long trở thành tỉnh phát triển năng động, hiện đại, gắn với đô thị thông minh, sinh thái và không gian phát triển thích ứng biến đổi khí hậu. Các giá trị văn hóa - lịch sử được bảo tồn và phát huy, góp phần nâng cao chất lượng sống của người dân và năng lực cạnh tranh của địa phương.
Một điểm nhấn quan trọng là định hướng phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tỉnh sẽ đẩy mạnh kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giảm phát thải, phù hợp xu thế phát triển bền vững toàn cầu.
Đặt mục tiêu tăng trưởng cao, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ
Trong giai đoạn đến năm 2030, Vĩnh Long đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 10%/năm; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,77%, công nghiệp - xây dựng tăng 16,83%, dịch vụ tăng 10,71%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,69%.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại với nông nghiệp chiếm 23,86%, công nghiệp - xây dựng 34,66%, dịch vụ 37,33% và thuế sản phẩm 4,15%.
Đáng chú ý, GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 dự kiến đạt 169,46 triệu đồng/người/năm; tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2030 theo giá hiện hành khoảng 480.000 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy quyết tâm lớn của tỉnh trong việc nâng cao quy mô và chất lượng nền kinh tế, đồng thời hướng đến mục tiêu tăng trưởng nhanh đi đôi với bền vững.
Xây dựng hệ sinh thái công nghiệp - năng lượng - logistics hiện đại
Một trong những trụ cột quan trọng của quy hoạch là phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và ứng dụng công nghệ cao. Tỉnh tập trung phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông-thủy sản, công nghiệp năng lượng, cơ khí chế tạo và công nghiệp hỗ trợ.
Đặc biệt, lĩnh vực năng lượng được xác định là động lực mới với tổng quy mô các dự án điện gió lên tới 5.394,8 MW, cùng với các dự án điện mặt trời quy mô 1.211 MW, điện sinh khối 75 MW và điện rác 55 MW.
Song song đó, hệ thống khu công nghiệp và cụm công nghiệp được mở rộng mạnh mẽ. Tổng diện tích các khu công nghiệp dự kiến đạt 8.273,19 ha, cùng với hệ thống cụm công nghiệp hơn 2.327,38 ha, tạo nền tảng thu hút đầu tư và phát triển sản xuất.
Đặc biệt, Khu kinh tế Định An với quy mô khoảng 39.020 ha được định hướng trở thành trung tâm phát triển công nghiệp, logistics và năng lượng của tỉnh và vùng.
Hệ thống cảng biển và cảng thủy nội địa cũng được đầu tư đồng bộ, với nhiều khu bến có khả năng tiếp nhận tàu từ 5.000 đến 50.000 tấn, góp phần hình thành mạng lưới logistics hiện đại, kết nối vùng và quốc tế.
Phát triển nông nghiệp sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu
Quy hoạch xác định nông nghiệp tiếp tục là nền tảng quan trọng, nhưng sẽ chuyển mạnh sang mô hình hiện đại, bền vững và tuần hoàn. Tỉnh ưu tiên phát triển các vùng chuyên canh cây ăn trái, dừa, hoa kiểng và thủy sản công nghệ cao.
Nhiều dự án quy mô lớn được đề xuất, như đầu tư 1.000 tỷ đồng phát triển vùng cây ăn trái và hoa kiểng, 500 tỷ đồng nâng cấp hạ tầng thủy sản và 200 tỷ đồng phát triển nuôi tôm công nghệ cao.
Đáng chú ý, tỉnh định hướng phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với du lịch sinh thái, đồng thời xây dựng chuỗi giá trị nông sản, nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng.
Các giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển hệ thống thủy lợi và bảo vệ rừng ngập mặn, cũng được lồng ghép xuyên suốt trong quy hoạch.
Đột phá phát triển đô thị, hạ tầng và liên kết vùng
Một điểm nhấn lớn khác là phát triển hệ thống đô thị theo hướng hiện đại, thông minh và bền vững. Đến năm 2030, toàn tỉnh dự kiến có 45 đô thị, trong đó có 3 đô thị loại II, 13 đô thị loại III và 30 đô thị loại IV, V.
Định hướng đến năm 2050, nhiều đô thị sẽ được nâng cấp, hình thành mạng lưới đô thị liên kết chặt chẽ với các trung tâm lớn như TPHCM, Cần Thơ và các tỉnh trong vùng.
Hệ thống hạ tầng giao thông được đầu tư đồng bộ với các tuyến cao tốc, quốc lộ và đường ven biển, tạo trục kết nối liên vùng và quốc gia. Đồng thời, mạng lưới đường thủy nội địa với 65 tuyến sông, kênh dài 638,51 km (cấp tỉnh quản lý) tiếp tục được nâng cấp để phát huy lợi thế giao thông thủy.
Bên cạnh đó, tỉnh đẩy mạnh phát triển hạ tầng số, xây dựng đô thị thông minh, trung tâm dữ liệu và hệ sinh thái chuyển đổi số, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số.
Nâng cao chất lượng sống và phát triển con người toàn diện
Quy hoạch đặt mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống người dân, với nhiều chỉ tiêu cụ thể. Đến năm 2030, dân số tỉnh dự kiến đạt khoảng 3,48 triệu người, tuổi thọ trung bình đạt 75,5 tuổi, chỉ số HDI đạt khoảng 0,78.
Thu nhập bình quân đầu người đạt 117 triệu đồng/năm, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt trên 60%, tỉ lệ bảo hiểm y tế trên 95%.
Hệ thống y tế được đầu tư với quy mô 13.083 giường bệnh công lập; giáo dục phát triển đồng bộ với mục tiêu phổ cập và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đặc biệt, tỉnh chú trọng phát triển văn hóa, bảo tồn di sản, nâng cao đời sống tinh thần và xây dựng xã hội văn minh, giàu bản sắc.
Hướng tới trung tâm đổi mới sáng tạo và kinh tế số
Một điểm nhấn mới trong quy hoạch là phát triển khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tỉnh dự kiến xây dựng Trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vùng ĐBSCL, cùng hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm dữ liệu và mạng lưới vườn ươm khởi nghiệp.
Ngoài ra, các dự án như hành lang logistics-công nghệ số phục vụ nông nghiệp, trung tâm nghiên cứu biến đổi khí hậu, hay hệ thống dữ liệu mở sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế số và quản trị thông minh.
Đây được xem là nền tảng để Vĩnh Long chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh trong giai đoạn mới.
Khát vọng vươn lên của một trung tâm mới
Với tầm nhìn dài hạn và định hướng phát triển rõ ràng, quy hoạch điều chỉnh tỉnh Vĩnh Long đến năm 2050 thể hiện khát vọng vươn lên mạnh mẽ, trở thành trung tâm kinh tế xanh, năng động của vùng ĐBSCL.
Những điểm nhấn về tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp-năng lượng, hiện đại hóa hạ tầng, chuyển đổi số và nâng cao chất lượng sống cho thấy một chiến lược phát triển toàn diện, bền vững.
Nếu được triển khai hiệu quả, quy hoạch này sẽ không chỉ tạo động lực mới cho Vĩnh Long mà còn góp phần thúc đẩy phát triển chung của cả vùng, đưa địa phương trở thành điểm sáng trên bản đồ kinh tế Việt Nam trong những thập niên tới.
VI. XÂY DỰNG, CỦNG CỐ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ NHÂN RỘNG MÔ HÌNH HAY, ĐIỂN HÌNH TIÊU BIỂU TRONG HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
Ngày 06/3, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Công văn số 289-CV/TU về Xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng và nhân rộng mô hình hay, điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Nhằm tiếp tục triển khai thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Công văn số 273-CV/TU, ngày 25/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tổ chức chào cờ Tổ quốc và hát Quốc ca vào sáng thứ Hai tuần đầu tiên của tháng và đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào thực chất, hiệu quả; đồng thời đảm bảo việc xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng và nhân rộng mô hình hay, điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đồng bộ, thống nhất, tạo sức lan tỏa trong toàn tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:
1. Các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; chuyên đề toàn khóa, hằng năm; những vấn đề nổi cộm, bức xúc, mới phát sinh, các nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng đảng, hệ thống chính trị,... tại địa phương, cơ quan, đơn vị để cụ thể hóa và ban hành Kế hoạch xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng và nhân rộng mô hình hay, điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để triển khai thực hiện, đảm bảo phù hợp tình hình thực tiễn và có tính khả thi cao. Tiếp tục duy trì các mô hình đã phát huy hiệu quả và kịp thời phát hiện các nhân tố tích cực, có cách làm hay, sáng tạo để biểu dương, bồi dưỡng và nhân rộng. Bảo đảm mỗi chi bộ (chi bộ cơ sở, chi bộ trực thuộc), đảng bộ cơ sở phải đăng ký, lựa chọn, xây dựng hoặc nâng chất, nhân rộng ít nhất 01 mô hình hay, điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, thực hiện nghiêm, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (thông qua hình thức kể câu chuyện về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tại Lễ chào cờ Tổ quốc và hát Quốc ca vào sáng thứ Hai tuần đầu tiên của tháng) theo Công văn số 273-CV/TU, ngày 25/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
2. Quan tâm công tác phối hợp kiểm tra, giám sát; công tác xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng và nhân rộng mô hình hay, điển hình tiêu biểu; kịp thời phát hiện, chỉ đạo, hướng dẫn tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; chấn chỉnh những biểu hiện, nhận thức lệch lạc. Tổ chức biểu dương, khen thưởng và đề xuất biểu dương, khen thưởng theo thẩm quyền; tổ chức gặp mặt các tập thể, cá nhân tiêu biểu, điển hình trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các hình thức phù hợp.
3. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện trong khối Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò tập hợp, vận động các tổ chức thành viên, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tuyên truyền và hưởng ứng thực hiện.
4. Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy hướng dẫn tiêu chí, cách thức cụ thể xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng và nhân rộng mô hình hay, điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ làm, hiệu quả, thực chất, tạo sự đồng thuận cao và tích cực tham gia hưởng ứng thực hiện của các cấp, các ngành và người dân; theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng các mô hình ở địa phương, cơ quan, đơn vị; tổ chức học tập, rút kinh nghiệm, nhân rộng những mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, tạo sự lan tỏa trong toàn tỉnh.
Chỉ đạo Báo và phát thanh, truyền hình Vĩnh Long, Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử sở, ban, ngành, địa phương, đài truyền thanh xã, phường thực hiện tốt công tác tuyên truyền kết quả triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền những mô hình hay, điển hình tiêu biểu trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự lan tỏa trong nội bộ và toàn xã hội.
BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TỈNH ỦY