I. KẾT QUẢ HỘI NGHỊ LẦN THỨ HAI BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 23 - 25/3/2026 tại Thủ đô Hà Nội. Hội nghị đã hoàn thành chương trình đề ra, trong đó thống nhất cao và thông qua một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua nội dung các văn kiện, nghị quyết:
(1) Về Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa XIV.
Quy chế khóa XIV bảo đảm tuân thủ Điều lệ Đảng; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; giữ vững vai trò lãnh đạo thống nhất, trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với các vấn đề chiến lược và chủ trương, chính sách, biện pháp lớn, quan trọng của đất nước, của Đảng trên các lĩnh vực và những thay đổi có tính thời đại của thế giới; phân công, phân cấp, ủy quyền gắn với kiểm soát quyền lực, tăng cường kiểm tra, giám sát; thống nhất với Hiến pháp và pháp luật.
Quy chế khóa XIV phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt, Thường trực Ban Bí thư; vai trò trung tâm, trách nhiệm, quyền hạn của Tổng Bí thư, đồng chí Thường trực Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; cá thể hóa trách nhiệm cá nhân, bảo đảm giải quyết công việc đúng thẩm quyền, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
(2) Về Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Chương trình bao gồm những vấn đề quan trọng, cốt lõi mà Trung ương cần tập trung bàn và đề ra quyết sách nhằm cụ thể hóa Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nhất là tập trung thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước giai đoạn 2026 - 2030, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng “hai con số” ngay từ năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tạo đà, tạo khí thế cho những năm tiếp theo.
Chương trình làm việc xác định cụ thể những nội dung mới, cốt lõi, chiến lược, mở đường cần cụ thể hóa để phát triển và ổn định đất nước. Trong đó, lưu ý một số vấn đề về tự chủ chiến lược quốc gia; nâng cao năng suất quốc gia; thích ứng với già hóa dân số; chuyển đổi xanh; vấn đề xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, văn minh, văn hóa, phát triển; thích ứng với biến đổi khí hậu; các đột phá chiến lược, các nhiệm vụ trọng tâm và một số vấn đề quan trọng khác.
Hằng năm, căn cứ vào diễn biến tình hình cụ thể ở trong và ngoài nước, Bộ Chính trị sẽ cân nhắc đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng bổ sung vào Chương trình làm việc những vấn đề thật sự cần thiết (nếu có).
(3) Về Quy định thi hành Điều lệ Đảng cơ bản kế thừa bố cục, nội dung của Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 26/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng; sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan trực tiếp đến các quy định về tổ chức đảng, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số và những nội dung đã được thực tế kiểm nghiệm, chứng minh là đúng, được đa số đồng tình cần đưa vào quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Nghiên cứu, chắt lọc, tiếp thu, điều chỉnh Quy định thi hành Điều lệ Đảng để khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổng kết thi hành Điều lệ Đảng và về tổ chức, hoạt động của đảng bộ mới thành lập ở Trung ương, cấp tỉnh. Cập nhật, bổ sung một số nội dung mới, quan trọng liên quan đến thi hành Điều lệ Đảng đã được Trung ương đề ra trong nhiệm kỳ khóa XIII.
(4) Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng kế thừa cơ bản Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp; bổ sung các quan điểm mới, nội dung mới, quy định mới của Trung ương và pháp luật của Nhà nước và bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
(5) Về Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV bám sát Điều lệ Đảng và các chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đối với công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng; kế thừa Quy chế làm việc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII; bổ sung các vấn đề mới, phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
(6) Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng là sự cụ thể hóa “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng: 1. Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; 2. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; 3. Kiên định đường lối đổi mới của Đảng; 4. Kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
Quy định thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó với các biến động của tình hình mới.
Quy định này không chỉ để “chống” (ngăn chặn suy thoái) mà quan trọng hơn là để “xây”. Trọng tâm là bảo đảm vai trò “đi trước, mở đường” của công tác chính trị, tư tưởng, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, lấy ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm phương thức đột phá trong Kỷ nguyên mới; chuyển từ tư duy nhận thức sang hiểu rõ và hành động quyết liệt; từ nhận thức quản lý sang quản trị, kiến tạo, phát triển; từ trạng thái “quản lý, giáo dục” sang “khơi thông, truyền cảm hứng”; khắc phục hiệu quả tình trạng nói không đi đôi với làm, hiểu rõ, nắm được đường lối, chủ trương nhưng không thực hiện; tạo động lực cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung; giải quyết dứt điểm tình trạng “luật đúng nhưng làm khó” đang gây lãng phí nguồn lực.
(7) Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng thay thế Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 30/7/2007, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhằm bảo đảm vận hành thông suốt chính quyền 3 cấp, nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước với quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cụ thể và các nhiệm vụ, giải pháp cả trước mắt và lâu dài.
(8) Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới kế thừa, bổ sung, phát triển các quan điểm, chủ trương, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và các chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ sau Nghị quyết Trung ương 3 khóa X.
Việc ban hành Nghị quyết mới khẳng định quyết tâm của Đảng về kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phát triển đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng “hai con số” liên tục trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu chiến lược 100 năm mà Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp thu, hoàn thiện các văn kiện, nghị quyết trên để ban hành, tổ chức thực hiện.
Thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng biểu quyết thống nhất giới thiệu nhân sự để Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI bầu chức danh lãnh đạo chủ chốt cơ quan nhà nước khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 theo quy định.
Thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý Tờ trình của Bộ Chính trị về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước và phương án giới thiệu nhân sự đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo cơ quan nhà nước khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ kết quả lấy ý kiến giới thiệu của Trung ương, biểu quyết chính thức giới thiệu nhân sự các chức danh lãnh đạo của cơ quan nhà nước khóa XVI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 để làm thủ tục trình Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định.
Thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu bổ sung đồng chí Nghiêm Xuân Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa giữ chức Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý chủ trương chuyển Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai thực hiện theo quy định, hoàn thành trước ngày 01/4/2026.
Thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đồng ý chủ trương thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng ủy Chính phủ căn cứ chủ trương của Trung ương chỉ đạo Chính phủ hoàn chỉnh Đề án, hồ sơ theo quy định để trình tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI xem xét, quyết định.
Thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho ý kiến về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030; Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030; Kế hoạch vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. Ban Chấp hành Trung ương Đảng giao Bộ Chính trị căn cứ Nghị quyết, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, báo cáo tiếp thu giải trình của Bộ Chính trị chỉ đạo tiếp thu, hoàn chỉnh Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng để ban hành, thực hiện; chỉ đạo Đảng ủy Chính phủ căn cứ kết luận của Trung ương chỉ đạo Chính phủ hoàn chỉnh các báo cáo liên quan để trình tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI xem xét, quyết định.
Thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thông qua Báo cáo tình hình đất nước quý I/2026; Báo cáo chuyên đề về tình hình thế giới, khu vực và phương hướng triển khai công tác đối ngoại thời gian tới và Báo cáo các công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương lần thứ nhất đến Hội nghị Trung ương lần thứ hai khóa XIV.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tăng cường đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
II. CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN DẪN DẮT TƯ TƯỞNG, KHƠI DẬY KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN, HIỆN THỰC HÓA MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
[baocaovien] Sau Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cao hơn, quyết liệt hơn và mang tính đột phá. Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế thuần túy, mà là biểu hiện tập trung của khát vọng phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam đến năm 2030 trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, tiến tới hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt, xung đột cục bộ, chiến tranh công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh diễn ra sâu rộng; trong nước đang triển khai đồng bộ các chủ trương lớn về tinh gọn bộ máy, đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thì nhiệm vụ đặt ra đối với toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị là hết sức nặng nề; trong đó, công tác tuyên giáo và dân vận giữ vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ là “mặt trận tư tưởng” mà còn là động lực tinh thần, là chất keo gắn kết xã hội, là lực lượng đi trước mở đường, đi cùng thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn. Yêu cầu mới đòi hỏi công tác tuyên giáo và dân vận phải chuyển mạnh từ trạng thái “giải thích - tuyên truyền” sang “dẫn dắt - kiến tạo - đồng hành - truyền cảm hứng phát triển”, góp phần trực tiếp vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của đất nước.
1. Dẫn dắt nhận thức, thống nhất ý chí - Nền tảng để bứt phá phát triển
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của công tác tuyên giáo là dẫn dắt nhận thức xã hội về mục tiêu tăng trưởng hai con số, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hiểu đúng, hiểu sâu và tin tưởng vào con đường phát triển mà Đảng đã lựa chọn.
Tăng trưởng hai con số không chỉ là tăng về quy mô, mà quan trọng hơn là tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực. Đây là sự chuyển dịch căn bản về tư duy phát triển, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức đến hành động.
Công tác tuyên giáo phải góp phần làm rõ tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững, hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường; phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội; lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Đồng thời, cần kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện tư duy an phận, trì trệ, sợ đổi mới; tâm lý “an toàn”, né tránh trách nhiệm; nhận thức sai lệch về vai trò của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thực tiễn cho thấy, mọi bước phát triển đột phá đều bắt đầu từ đột phá về tư duy. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong việc giải phóng tư tưởng, khơi dậy khát vọng vươn lên của toàn xã hội.
2. Kiến tạo hệ giá trị phát triển - Nền tảng tinh thần của xã hội phồn vinh, hạnh phúc
Để bảo đảm tăng trưởng nhanh nhưng không đánh đổi các giá trị cốt lõi, cần xây dựng và lan tỏa hệ giá trị phát triển quốc gia trong thời kỳ mới, bao gồm: yêu nước, kỷ cương, sáng tạo, liêm chính, trách nhiệm, hiệu quả. Công tác tuyên giáo phải đóng vai trò trung tâm trong việc định hình chuẩn mực giá trị xã hội; gắn kết giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện.
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu không có nền tảng giá trị vững chắc, xã hội dễ rơi vào tình trạng phát triển lệch chuẩn, chạy theo vật chất, suy giảm đạo đức. Do đó, việc xây dựng hệ giá trị không chỉ là nhiệm vụ văn hóa, mà còn là yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
3. Khởi thông nguồn lực tư duy cho phát triển kinh tế
Điểm nghẽn lớn hiện nay không chỉ nằm ở thể chế hay nguồn lực vật chất, mà còn nằm ở tư duy phát triển. Do đó, công tác tuyên giáo cần góp phần làm rõ và lan tỏa nhận thức: Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt; mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển vì lợi ích quốc gia. Đồng thời, cần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; làm giàu chính đáng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây chính là quá trình giải phóng nguồn lực xã hội từ gốc - đó là tư duy và động lực con người.
4. Tạo đồng thuận xã hội cho cải cách thể chế và đổi mới mô hình phát triển
Những cải cách lớn về tổ chức bộ máy, phân cấp, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế số… sẽ tác động sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân. Công tác dân vận cần chuyển mạnh từ “vận động hành chính” sang đối thoại, lắng nghe, thuyết phục và đồng hành với người dân, doanh nghiệp. Phải làm cho nhân dân hiểu: Vì sao cần cải cách? Cải cách mang lại lợi ích gì? Vai trò của mỗi người trong quá trình phát triển? Đồng thuận xã hội chính là điều kiện tiên quyết để triển khai thành công các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
5. Chủ động làm chủ không gian mạng - Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong thời đại số, không gian mạng trở thành một “mặt trận” đặc biệt quan trọng, do đó công tác tuyên giáo cần chuyển từ thế bị động sang chủ động dẫn dắt thông tin, định hướng dư luận; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo để phân tích, dự báo xu hướng xã hội; xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính thống mạnh mẽ, hấp dẫn. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, đặc biệt là những thông tin xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế, chính sách xã hội và vai trò lãnh đạo của Đảng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới chính là bảo vệ ổn định chính trị - điều kiện tiên quyết của phát triển.
6. Gắn công tác tuyên giáo với phát triển cong người - Động lực nội sinh của tăng trưởng
Mục tiêu cuối cùng của phát triển là con người. Vì vậy, công tác tuyên giáo phải gắn chặt với các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, khoa học công nghệ. Phải hình thành trong xã hội tinh thần học tập suốt đời; tôn trọng tri thức; khuyến khích sáng tạo. Một xã hội học tập, một nền kinh tế tri thức chính là nền tảng để duy trì tăng trưởng cao và bền vững.
7. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - Nguồn lực quyết định
Công tác dân vận cần tiếp tục khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Do vậy, cần tăng cường đối thoại với nhân dân; phát huy vai trò của trí thức, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Khi lòng dân đồng thuận, niềm tin được củng cố, thì mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mọi mục tiêu đều có thể đạt được.
8. Đổi mới mạnh mẽ phương thức tuyên truyền, nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách
Trong bối cảnh mới, phương thức tuyên truyền cần được đổi mới toàn diện từ một chiều sang tương tác đa chiều; từ truyền thống sang đa nền tảng số; từ thông tin chung sang cá nhân hóa. Đồng thời, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông lớn về chuyển đổi số; phát triển kinh tế xanh; đổi mới sáng tạo; xây dựng xã hội hạnh phúc. Làm cho chính sách của Đảng và Nhà nước thực sự đi vào đời sống, trở thành hành động cụ thể của từng người dân.
9. Tăng cường kiểm tra, giám sát về chính trị tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm sự thống nhất trong Đảng
Công tác kiểm tra, giám sát cần chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm; kết hợp giữa kiểm tra truyền thống với ứng dụng công nghệ số. Mục tiêu là giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng một xã hội phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là một khát vọng lớn, đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong hành trình đó, công tác tuyên giáo và dân vận không chỉ là “cầu nối” mà phải thực sự trở thành người dẫn đường về tư tưởng; người khơi nguồn cảm hứng phát triển; người kết nối và huy động sức mạnh toàn xã hội. Phát huy truyền thống vẻ vang, đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức hoạt động, công tác tuyên giáo và dân vận chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa Việt Nam vững bước trên con đường trở thành quốc gia phát triển, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
III. KẾT QUẢ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031
Ngày 15/3/2026, hơn 76 triệu cử tri cả nước đã đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Cuộc bầu cử đã diễn ra trong không khí phấn khởi, dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, thành công tốt đẹp và thực sự là ngày hội lớn của toàn dân. Dưới sự lãnh đạo sâu sát của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, sự chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt, khoa học, kịp thời, chuyên nghiệp, sáng tạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cấp, các ngành, các tổ chức phụ trách bầu cử từ Trung ương đến địa phương, Cuộc bầu cử đã thành công rất tốt đẹp.
Hội đồng bầu cử quốc gia đánh giá những kết quả đạt được, thành công của cuộc bầu cử thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, cuộc bầu cử diễn ra ngay sau khi nước ta thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp. Với kết quả bầu đủ 500 đại biểu Quốc hội, 2.552 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và 72.437 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, đã khẳng định công tác nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng, dân chủ, đúng quy định của pháp luật. Các đại biểu được bầu bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng và có cơ cấu hợp lý; tỷ lệ đại biểu kiêm nhiệm làm việc trong các cơ quan hành pháp, tư pháp giảm, tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách tăng; tỷ lệ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trúng cử có trình độ chuyên môn cao hơn so với nhiệm kỳ trước.
Thứ hai, cuộc bầu cử đã trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, thu hút sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân từ khâu chuẩn bị đến ngày bầu cử. Với số lượng cử tri lớn nhất, tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt cao nhất từ trước đến nay (99,7%) đã thể hiện rõ ý thức chính trị và trách nhiệm công dân; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp được triển khai quyết liệt, đồng bộ; công tác thông tin, tuyên truyền được tổ chức rộng khắp, hiệu quả.
Thứ ba, các nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch được bảo đảm xuyên suốt trong toàn bộ quy trình bầu cử, từ dự kiến cơ cấu, thành phần, số lượng; hiệp thương, lấy ý kiến cử tri; giới thiệu người ứng cử; vận động bầu cử; đến tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu, qua đó lựa chọn được những đại biểu đủ tiêu chuẩn, xứng đáng.
Thứ tư, công tác chuẩn bị và tổ chức thực hiện được tiến hành nghiêm túc, đúng quy định pháp luật, bảo đảm tiến độ đề ra. Hệ thống văn bản chỉ đạo, hướng dẫn được ban hành kịp thời, đồng bộ; công tác thông tin, tuyên truyền có nhiều đổi mới, góp phần nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận xã hội.
Thứ năm, tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong suốt quá trình diễn ra cuộc bầu cử được giữ vững; không phát sinh tình huống phức tạp, bất thường; số lượng các đơn thư, khiếu nại tố cáo liên quan đến cuộc bầu cử giảm hơn nhiều so với các nhiệm kỳ trước.
Thành công của cuộc bầu cử tiếp tục khẳng định niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ; đồng thời góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đây là tiền đề quan trọng để Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; góp phần đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc vào kỷ nguyên mới, đáp ứng nguyện vọng của cử tri, Nhân dân.
Nguyên nhân thành công của cuộc bầu cử:
Trước hết, là sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy Đảng trong toàn bộ quá trình chuẩn bị và tổ chức bầu cử.
Hai là, sự tham gia tích cực, trách nhiệm của cử tri và các tầng lớp Nhân dân cả nước, thể hiện qua tinh thần chủ động trong công tác chuẩn bị và ý thức lựa chọn đại biểu thông qua từng lá phiếu.
Ba là, sự chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời; công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên; sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Trung ương và địa phương, nhất là Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; cùng với hoạt động tích cực, chủ động của Văn phòng Hội đồng bầu cử quốc gia, các Tiểu ban giúp việc và các bộ phận tham mưu giúp việc của các cơ quan tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương.
Bốn là, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên đã phát huy hiệu quả vai trò trong công tác hiệp thương, giới thiệu người ứng cử, vận động bầu cử và động viên Nhân dân tích cực tham gia.
Năm là, sự chủ động, trách nhiệm của chính quyền và các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp trong việc tổ chức triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, bảo đảm an ninh, trật tự; đẩy mạnh tuyên truyền; giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo; chuẩn bị đầy đủ điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ bầu cử.
Sáu là, các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện bầu cử, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin đến những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, đã được các cấp, các ngành chủ động nhận diện sớm, đánh giá đúng, kịp thời và có giải pháp xử lý phù hợp, hiệu quả; qua đó góp phần quan trọng làm nên thành công chung của cuộc bầu cử.
IV. TĂNG CƯỜNG LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC ỨNG PHÓ HẠN, XÂM NHẬP MẶN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác ứng phó hạn, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
Trước tình hình trên, để chủ động ứng phó với tình hình xâm nhập mặn trong mùa khô 2025 - 2026 và những năm tiếp theo, hạn chế thấp nhất thiệt hại, bảo vệ sản xuất và ổn định đời sống nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khẩn trương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm sau:
1. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong công tác phòng, chống, ứng phó hạn, xâm nhập mặn; triển khai đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả các giải pháp phòng, chống hạn, xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh; xác định công tác phòng, chống, ứng phó hạn, xâm nhập mặn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách và thường xuyên. Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương chỉ đạo của Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phòng, chống, ứng phó với hạn và xâm nhập mặn.
2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm của Nhân dân và doanh nghiệp trong việc sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, chủ động bảo vệ và gìn giữ nguồn nước. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn Nhân dân thực hiện các biện pháp phòng, chống, ứng phó với hạn, xâm nhập mặn bằng nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt, chuyển tiếp thông tin dự báo, cảnh báo trên các nền tảng số, bảo đảm thông tin được truyền tải đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, dễ thực hiện, góp phần nâng cao nhận thức và khả năng chủ động ứng phó của cộng đồng.
3. Nâng cao chất lượng công tác quan trắc, giám sát diễn biến hạn, xâm nhập mặn; dự báo, cảnh báo sớm, kịp thời, chính xác nhằm phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành trong phòng, chống, ứng phó hiệu quả với tình hình hạn, xâm nhập mặn. Chủ động các biện pháp ứng phó phù hợp với thực tiễn từng địa bàn; huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, đồng bộ các nguồn lực của Nhà nước, doanh nghiệp và Nhân dân; phát huy vai trò của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trong công tác phòng, chống thiên tai, hạn, xâm nhập mặn; chủ động triển khai các giải pháp bảo đảm cung cấp đủ nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất; không để người dân thiếu nước sinh hoạt, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống và hoạt động sản xuất của Nhân dân trên địa bàn tỉnh. Tăng cường ứng dụng công nghệ số (IoT, cảm biến tự động, GIS, AI) để quan trắc độ mặn thời gian thực, dự báo chính xác hơn; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm qua app di động, SMS, Zalo OA cho người dân và doanh nghiệp; tích hợp dữ liệu với Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam và các nền tảng quốc gia.
4. Chủ động xây dựng, điều chỉnh lịch thời vụ phù hợp với tình hình thực tế của từng khu vực, từng địa phương; kịp thời khuyến cáo hướng dẫn các giải pháp trong sản xuất nông nghiệp thích ứng với diễn biến thiên tai, hạn, xâm nhập mặn trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản để các địa phương và Nhân dân triển khai thực hiện. Xây dựng nền tảng số hỗ trợ nông dân (app tư vấn lịch thời vụ, giống chịu mặn, chuyển đổi cây trồng thích ứng mặn,...). Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp; hướng dẫn Nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng vùng sinh thái theo hướng thích ứng với hạn, mặn, nâng cao hiệu quả kinh tế, đáp ứng nhu cầu thị trường; từng bước chuyển từ phát triển theo số lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Phát động Nhân dân chủ động nạo vét mương, ao trữ nước, trang bị các dụng cụ chứa nước, trữ nước; dụng cụ đo mặn để trữ nước mưa, nước ngọt phục vụ nhu cầu sinh hoạt, chăn nuôi và sản xuất; tiếp tục nhân rộng áp dụng hiệu quả các mô hình hay, cách làm hiệu quả thời gian qua như: đắp đập tạm, xây dựng cống tạm, đào ao trải bạt, trữ nước trong mương vườn, sử dụng túi chứa nước,... để phục vụ ngăn mặn, trữ ngọt phục vụ sản xuất, sinh hoạt trong trường hợp xâm nhập mặn tăng đột biến, bất thường.
5. Rà soát, xây dựng và sẵn sàng triển khai các phương án ngăn mặn, trữ ngọt tại các địa phương nhằm chủ động ứng phó trong trường hợp xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, tăng đột biến, bất thường; bảo đảm tạo nguồn cấp nước ổn định cho các nhà máy nước và phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của Nhân dân; khuyến khích thực hiện theo mô hình xã hội hóa theo phương châm Nhà nước và Nhân dân cùng làm, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, tránh lãng phí; chủ động bố trí các nguồn kinh phí để triển khai kịp thời, hiệu quả các giải pháp phòng, chống hạn, xâm nhập mặn; tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ theo quy định.
6. Tăng cường công tác quản lý, vận hành và khai thác hiệu quả các công trình phòng, chống thiên tai đã được đầu tư trên địa bàn tỉnh; chú trọng công tác nạo vét hệ thống kênh mương nội đồng, khơi thông dòng chảy; duy tu, sửa chữa, nâng cấp hệ thống công trình thủy lợi, đê điều nhằm phát huy tối đa hiệu quả sử dụng. Chủ động xây dựng và thực hiện lịch vận hành linh hoạt, hiệu quả đối với các công trình cống, trạm bơm; ưu tiên tạo nguồn, cấp nước cho các nhà máy nước, phục vụ sản xuất nông nghiệp, nhu cầu dân sinh trên địa bàn tỉnh. Xây dựng hệ thống vận hành thông minh (tự động hóa cống, trạm bơm) để điều tiết nước linh hoạt, ưu tiên cấp nước sinh hoạt và sản xuất; thí điểm mô hình ngăn mặn thông minh tại các khu vực trọng điểm. Đồng thời, tiếp tục tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, ưu tiên bố trí nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình phòng, chống thiên tai trọng điểm trên địa bàn tỉnh; đẩy nhanh tiến độ thi công, sớm đưa các công trình phòng, chống xâm nhập mặn, trữ ngọt và cấp nước đi vào vận hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
7. Tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp, mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch trên địa bàn tỉnh, nhất là tại các khu vực cồn, vùng nông thôn, vùng ven biển, nơi còn khó khăn về nguồn nước sạch; chủ động xây dựng phương án đấu nối, hòa mạng, điều tiết và phân bổ nguồn nước giữa các nhà máy nước nhằm bảo đảm cung cấp đủ nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của Nhân dân trên địa bàn tỉnh,... Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nguồn nước, đặc biệt là trên các sông chính, khu vực trữ ngọt và nguồn cấp nước sinh hoạt; kiểm soát chặt chẽ các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, giảm chất lượng nguồn nước; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân, vi phạm theo quy định của pháp luật, góp phần bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh.
8. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung Chỉ thị này; cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch phù hợp để triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả. Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh tăng cường vận động Nhân dân, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ nhằm hỗ trợ các đối tượng khó khăn, vùng bị ảnh hưởng nặng. Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch cụ thể, chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện Chỉ thị này; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy để kịp thời chỉ đạo.
BAN TUYÊN GIÁO VÀ DÂN VẬN TỈNH ỦY